Bismuth là thuốc được dùng trong điều trị loét dạ dày và tá tràng do có ái lực bao phủ chọn lọc lên đáy ổ loét dạ dày (với niêm mạc dạ dày bình thường thì không có tác dụng này). Ngoài ra, bismuth còn có tác dụng diệt khuẩn H. Pylori (một trong những thủ phạm gây loét dạ dày, tá tràng). Người ta thấy rằng khi dùng đơn trị liệu, các hợp chất bismuth chỉ diệt được H. Pylori ở khoảng 20% người bệnh, nhưng khi phối hợp với kháng sinh và chất ức chế bơm proton (phác đồ tam trị liệu) có thể tới 95% người bệnh được diệt trừ H. Pylori. Vì vậy, bismuth thường được sử dụng phối hợp với các chất trên để diệt vi khuẩn H. Pylori và ngăn ngừa tái phát loét tá tràng. Thuốc được uống trước bữa ăn. Thời gian điều trị trong 4 tuần, kéo dài tới 8 tuần (nếu cần thiết).

Các thuốc điều trị hội chứng Raynaud
 
Có thể dùng một số thuốc giãn mạch nhóm chẹn kênh calci, thuốc giãn mạch trực tiếp và gián tiếp khác, thuốc ức chế giao cảm, thuốc đồng phân của prostaglandin... Hiện thuốc chẹn kênh calci được coi là lựa chọn hàng đầu trong điều trị hội chứng Raynaud, trong đó có thuốc được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng là nifedipin. Nếu nifedipin không dung nạp được thì có thể dùng một số thuốc khác trong nhóm chẹn kênh calci như amlodipin, diltiazem. Các thuốc giãn mạch khác ngoài nhóm chẹn kênh calci có thể sử dụng bao gồm thuốc giãn mạch trực tiếp như nitroglycerin, nitroprussid, hydralazin, papaverin... hoặc thuốc giãn mạch gián tiếp như ketanserin (thuộc nhóm đối kháng serotonin chọn lọc), fluoxetin (ức chế tái hấp thu serotonin), captopril (nhóm ức chế men chuyển), hoặc sindenafil (thuốc ức chế phosphodiesterase). Tuy nhiên, nhìn chung các thuốc trên không dùng đơn độc để điều trị hội chứng Raynaud - đặc biệt trong thể nặng mà thường dùng phối hợp với thuốc chẹn kênh calci do tác dụng cũng như tính dung nạp của thuốc nhóm chẹn kênh calci tốt hơn. Hiện nay có một số thuốc được nghiên cứu sử dụng điều trị trong tăng áp động mạch phổi nhưng lại có hiệu quả trong điều trị hội chứng Raynaud là bosetan. Bosetan là thuốc đối kháng thụ thể nội mô không chọn lọc (nonselective endothelin receptor antagonist) vừa có tác dụng trong điều trị tăng áp động mạch phổi, lại vừa có tác dụng giảm thiếu máu ở chi, qua đó ngăn cản tình trạng loét, hoại tử ngón. Các thuốc nhóm đối kháng giao cảm cũng được sử dụng trong điều trị hội chứng Raynaud do cơ chế đối kháng với các thụ thể thần kinh giao cảm, đặc biệt là các thụ thể alpha 2 có nhiều ở mạch ngoại biên, do đó gây giãn mạch ngoại biên. Thuốc hay dùng là prazosin, reserpin, methyldopa... Nhìn chung các thuốc này có tác dụng trong đợt cấp, nhưng tác dụng điều trị giảm dần theo thời gian và có nhiều tác dụng phụ như gây hạ huyết áp tư thế đứng, mạch nhanh... Một số thuốc đồng phân prostagladin cũng được dùng do tác dụng giãn mạch, ức chế ngưng tập tiểu cầu. Các thuốc chủ yếu hiện dùng thuộc nhóm này như prostaglandin E1. Hoặc iloprost là thuốc đồng phân tổng hợp của prostacyclin. Các chế phẩm đường uống của prostaglandin E1 (misoprostol) hay dạng uống iloprost  cũng được sử dụng nhưng dường như ít có hiệu quả trong điều trị hội chứng Raynaud.

Bệnh thường bắt đầu bằng dấu hiệu hắt hơi, rồi chảy nước mũi trong. Lúc này niêm mạc mũi nề sũng làm trẻ ngạt tắc mũi thường xuyên. Viêm mũi xoang xuất tiết tuy không nguy hiểm nhưng lại rất hay gây biến chứng làm ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ của trẻ như giảm thị lực, viêm họng, ho kéo dài, viêm thanh - khí - phế quản...

Vitamin B2 (còn có tên là riboflavin) là một vitamin nhóm B. Về cơ chế tác dụng, riboflavin được biến đổi thành thành 2 co-enzym là FMN (flavin mononucleotid) và FAD (flavin adenin dinuclrotid). Đây là các dạng co-enzym hoạt động cần cho sự hô hấp của mô. Riboflavin cũng cần cho sự hoạt hóa pyridoxin (vitamin B6), sự chuyển tryptophan thành niacin và liên quan đến sự toàn vẹn của hồng cầu.

Xơ cứng bì toàn thể là một bệnh tự miễn dịch, đặc trưng bởi tình trạng xơ hoá da và mô dưới da do tổn thương chủ yếu là chất cơ bản của thành phần tạo keo ở da. Bệnh thường gặp ở nữ (80%), lứa tuổi 30-50. Bệnh có tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt ở da, mạch máu (trong đó hay gặp hội chứng Raynaud) và nội tạng: chủ yếu là thực quản, phổi, tim và thận. Chẩn đoán bệnh theo Hội thấp khớp học Mỹ (ACR) năm 1980 bao gồm: tiêu chuẩn chính là xơ da vùng gần; tiêu chuẩn phụ gồm có xơ da đầu chi, sẹo hoặc vết loét ở đầu ngón tay, xơ phổi ở vùng đáy. Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn chính, hoặc có 2 tiêu chuẩn phụ.

Tại sao thạch xương bồ lại được sử dụng?
 
- Thạch xương bồ dùng làm thuốc là thân rễ phơi khô của cây thạch xương bồ. Sở dĩ người ta dùng thạch xương bồ để điều trị ho là vì theo quan niệm Đông y thì thạch xương bồ có tác dụng trên hệ hô hấp. Thạch xương bồ có vị cay, tính ôn, vào hai kinh tâm và can. Nó có tác dụng tẩy uế, khai khiếu, tuyên khí, trục đờm nên có tác dụng trị thần kinh suy nhược, kém tiêu hóa, thông cửu khiếu, thông khí, giải độc, trị phong hàn tê thấp. Những thể ho mà có đờm thì dùng thạch xương bồ có ích.

Các bài khác...