Bệnh khởi phát ở mũi và xoang cạnh mũi tạo ra một bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng: sốt nhẹ, đau âm ỉ vùng xoang, có thể có sung huyết mũi hay chảy nước mũi loãng có lẫn máu; mấy ngày sau bệnh nhân bị song thị, sốt cao, mất tri giác. Khám thấy giảm vận động một mắt, phù kết mạc, lồi mắt; xương xoăn mũi ở vách đỏ sậm hay hoại tử; có thể hoại tử một vùng ở khẩu cái cứng; viêm da gò má; dễ bị mù do nấm xâm nhập vào nhãn cầu hay động mạch mắt.
 
Gây bệnh nấm Mucorales gặp nhiều nhất là những loài nấm Rhizopus. Rhizomucor, Cuninghamella, các loài Apophysomyces, Saksenaea, Mucor, Absidia ít gặp hơn. Nấm khó phát triển ở mô bị nhiễm, chỉ gồm những sợi nấm rộng, hiếm khi có vách, đường kính khoảng 6 - 50mm, trong khi nó mọc nhanh chóng và đa dạng ở những môi trường cấy trong nhiệt độ phòng.
 
Những yếu tố gây nhiễm nấm
 
Nhiệt độ nóng, độ ẩm cao, mưa ướt, không khí ô nhiễm, nhiều bụi bặm thích hợp cho nấm phát triển, khả năng nhiễm nấm cao.
 
Các nghề như: nông, lâm, ngư nghiệp, hoặc tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc, lâm thổ, hải sản dễ nhiễm nấm gây bệnh.
 
Những bệnh gây giảm thông khí xoang, giảm sự dẫn lưu của xoang như: viêm tắc lỗ thông mũi xoang, vẹo vách ngăn mũi, polyp, dị vật trong mũi xoang...
 
Bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch như: nhiễm HIV, tiểu đường, bệnh về máu, do dùng thuốc corticoid, kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch, hóa trị liệu...
 
Bệnh nấm Mucorales hay gặp ở những bệnh nhân trước đây đã từng mắc các bệnh nặng khác. Bệnh khởi phát từ những xoang cạnh mũi và mũi hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường. Bệnh ở xoang hoặc phổi lại gặp nhiều ở các bệnh nhân cấy ghép cơ quan, bệnh máu ác tính. Bệnh tại đường tiêu hóa xuất hiện ở những bệnh nhân bị ure máu cao, suy dinh dưỡng nặng hay bị tiêu chảy mạn tính. Người mắc bệnh từ tự nhiên, không lây từ người này sang người khác. Mọi thể bệnh do nấm Mucorales gây ra có đặc điểm nổi bật là sợi nấm xâm nhập mạch máu; thiếu máu hay hoại tử xuất huyết là đặc điểm tổ chức học cần lưu ý.
 
Biểu hiện lâm sàng
 
Bệnh khởi phát ở mũi và xoang cạnh mũi tạo ra một bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng: sốt nhẹ, đau âm ỉ vùng xoang, có thể có sung huyết mũi hay chảy nước mũi loãng có lẫn máu; mấy ngày sau bệnh nhân bị song thị, sốt cao, mất tri giác. Khám thấy giảm vận động một mắt, phù kết mạc, lồi mắt; xương xoăn mũi ở vách đỏ sậm hay hoại tử; có thể hoại tử một vùng ở khẩu cái cứng; viêm da gò má; dễ bị mù do nấm xâm nhập vào nhãn cầu hay động mạch mắt. Chụp cắt lớp hay cộng hưởng từ thấy mờ ở một hoặc nhiều xoang. Chụp động mạch cảnh có thể thấy hình ảnh xâm nhập hay tắc nghẽn động mạch. Nếu nấm xâm nhập vào não ở thùy trán có thể gây hôn mê. Biểu hiện bệnh lúc đầu rất giống với viêm xoang do nhiễm khuẩn. Khi xuất hiện tình trạng lơ mơ có thể là đã bị nhiễm toan do tiểu đường. Nếu ổ mắt bị nấm xâm nhập, có thể dẫn đến huyết khối xoang hang. Những trường hợp không chẩn đoán được bệnh sớm hoặc không được điều trị, bệnh nhân có thể tử vong sau vài ngày hay vài tuần. Khi phổi bị nhiễm nấm gây bệnh, các triệu chứng giống như trường hợp viêm phổi tiến triển nặng có kèm theo sốt cao và biểu hiện nhiễm độc. Các ổ thâm nhiễm rộng có thể hóa nang ở vùng trung tâm bị hoại tử. Nguy hiểm nhất là nấm lan theo đường máu đến gây tổn thương ở các vùng phổi khác hay đến não và các cơ quan khắp cơ thể. Ở thể bệnh này, hiếm thấy bệnh nhân sống sót được trên hai tuần. Trường hợp nấm xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh, thường biểu hiện từ một đến nhiều vết loét tiến triển dẫn đến thủng ống tiêu hóa. Bệnh bắt nguồn từ xoang cạnh mũi, phổi hay ống tiêu hóa có thể lan tỏa toàn thân do nấm theo đường máu. Dùng phương pháp chụp CT hay MRI rất tốt để đánh giá mức độ viêm xoang trước khi mổ và theo dõi diễn tiến của bệnh nhân sau mổ. Chụp CT giúp phát hiện sự ăn mòn xương; còn MRI cho phép quan sát rõ sự xâm lấn của nấm vào trong thùy trán hay động mạch cảnh. Phương pháp sinh thiết giúp chẩn đoán tốt các tổn thương ở phổi và sọ mặt. Chụp Xquang thông thường thấy xoang mờ, đôi khi có ổ lắng đọng canxi. Giải phẫu bệnh mổ xoang thấy trong xoang có những khối màu đen, dễ vỡ hoặc giống như bùn. Soi bệnh phẩm dưới kính hiển vi thấy những sợi nấm và những bào tử nấm thâm nhập trong các lớp niêm mạc xoang; nuôi cấy trong môi trường thích hợp cho nấm phát triển, soi dưới kính hiển vi chẩn đoán xác định. Huyết thanh chẩn đoán thường âm tính trong giai đoạn nấm chưa xâm lấn, nhưng dương tính cao ở giai đoạn xâm lấn.
 
Điều trị
 
Phẫu thuật: Cách chữa bệnh đơn giản và hiệu quả nhất là phải lấy dị vật trong mũi xoang bệnh nhân, chữa bệnh càng sớm càng tốt. Xử lý các trường hợp gây bít tắc xoang như cắt polyp, khối u, chỉnh hình vách ngăn mũi... Nếu phát hiện nấm trong xoang phải lấy triệt để, hốc xoang phải được bơm rửa sạch. Cắt lọc và làm sạch rộng các tổn thương sọ mặt là công tác điều trị rất quan trọng. Có khi phải tiến hành thủ thuật múc ổ mắt.
 
Phương pháp nội khoa: Có thể dùng amphotericin B tiêm tĩnh mạch có kết quả tốt đối với bệnh nấm Mucorales ở vùng sọ mặt hay các thể bệnh khác. Nên sử dụng liều cao có chuyển biến bệnh rõ rệt trong thời gian dài cho đến khi lui hết các triệu chứng. Thông thường liều chỉ định là 1 - 1,5mg/kg mỗi ngày, trong thời gian tổng cộng từ 10 - 12 tuần. Nếu điều trị tích cực có thể chữa khỏi bệnh cho khoảng trên 50% số bệnh nhân bị nhiễm bệnh vùng sọ mặt. Những trường hợp bệnh nhân bị bệnh nấm Mucorales ở phổi, đường tiêu hóa hay ở thể lan tỏa hầu hết bị tử vong dù có được điều trị.
 
BS. Trần Thanh Tâm

Nội dung chỉ mang tính tham khảo, chúng tôi không chịu trách nhiệm nếu bạn tự ý điều trị hoặc tự sử dụng thuốc khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.