Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh mạn tính, đặc trưng bởi một tình trạng tăng đường huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đạm, đường, mỡ..., về lâu dài đưa đến các biến chứng trên các mạch máu, mắt, thận, thần kinh. Một trong những biến chứng khá quan trọng mà người thầy thuốc chưa thực sự quan tâm đến và bệnh nhân ngại nêu ra đó là sự bất lực ở các nam bệnh nhân ĐTĐ.
 
Vài nét về biến chứng bất lực của bệnh nhân ĐTĐ
 
Thuật ngữ bất lực ở đây hàm ý nói bệnh nhân không có khả năng duy trì hoặc nhận được sự cương dương vật lúc giao hợp. Có nhiều tranh luận quanh thuật ngữ này và các nhà chuyên môn thích dùng thuật ngữ rối loạn cương dương (Erectile dysfunction) để chỉ tình trạng trên hơn là bất lực (impotence) để chỉ sự tương xứng chuyện đó. Tranh luận là vấn đề của các nhà chuyên môn, trong bài viết này chúng ta nói bất lực với hàm ý trên.
 
Từ 10-15 năm trở lại đây, y học đã rất quan tâm đến vấn đề này và nhiều phương pháp điều trị vật lý được áp dụng (massage, kích thích điện, hút chân không...), tâm lý, phẫu thuật... Theo tác giả Mc Culloch DK (trong Diabetologia, 1980) nghiên cứu trên 541 nam bị ĐTĐ thì tỷ lệ bị bất lực là 35%. Tỷ lệ này tăng theo tuổi: 5,7% ở tuổi 20-24; 52,4% ở tuổi 55-59 và 5 năm sau có 28% người trong nhóm không bị bất lực sẽ bị biến chứng này, nhưng điều đáng mừng là chỉ 9% trong số bệnh nhân xem là bất lực ở trên có bất lực thật sự do tổn thương trực tiếp của bệnh. Một nghiên cứu khác lại cho rằng tỷ lệ bất lực lên đến 75% ở nam bệnh nhân ĐTĐ. Dầu sao thì tỷ lệ này cao rất nhiều so với người không bị bệnh ĐTĐ trong cộng đồng (theo Kinsey AC công bố trong Sexual Behaviour in The Human Male là 0,1-18,4%).
 
Một số thuốc thường dùng trên bệnh nhân ĐTĐ sẽ làm bất lực
 
- Thuốc ức chế thụ thể bê-ta: Propranolol, labetolol (ít hơn)... kể cả thuốc nhỏ mắt.
 
- Thuốc lợi tiểu: đặc biệt là nhóm thiazid, ít hơn ở spironolacton.
 
- Thuốc tâm thần: Phenothiazin (thioridazin, lithium), haloperidol, primozid.
 
- Thuốc chống trầm cảm: Ba vòng, ức chế ôxy hóa monoamin.
 
- Thuốc chống loạn nhịp: Verapamil, disopyramid, flecainid, propafenon.
 
- Thuốc giảm lipid máu: Gemfibrozil, clofibrat.
 
- Thuốc hạ áp: Hydralazin, methyldopa, prazonsin, clonidin.
 
- Thuốc gây nghiện: Morphin, heroin...
 
- Một số loại thuốc khác như: thuốc chống động kinh, allopurinol, steroid, baclofen, bromocriptin, cimetidin, ketoconazol, metoclopramid, thuốc kháng viêm non steroid, oestrogen, acetazolamid.
 
Người bị biến chứng này cần được khám như thế nào?
 
Những người bệnh ĐTĐ bị biến chứng này nhất thiết phải đến bác sĩ chuyên khoa khám để được đánh giá tổng quát về: mạch máu, thần kinh, nội tiết, bất thường cơ quan sinh dục, soi đáy mắt.
 
Một số xét nghiệm thường quy cần làm như: đường huyết, chức năng thận, chức năng nội tiết.
 
Các xét nghiệm chuyên biệt: xét nghiệm papaverin, siêu âm doppler dương vật, xét nghiệm tâm lý tình dục, đo độ cứng dương vật lúc ngủ, Xquang xâm lấn (mạch máu đồ dương vật cản quang, chụp thể hang cản quang).
 
Hướng điều trị biến chứng này là gì?
 
Tùy theo nguyên nhân gây ra mà có hướng điều trị khác nhau hoặc kết hợp nhiều phương pháp.
 
Tâm lý liệu pháp:
 
Là phương pháp hàng đầu vì không phải trường hợp nào cũng do tổn thương thực thể của bệnh. Trong các bệnh mạn tính nói chung, tâm lý của người bệnh rất phức tạp, người bệnh mặc cảm, tự cho rằng mình không đủ khả năng... Bác sĩ sẽ giúp tìm ra những vướng mắc để tháo gỡ bằng các trắc nghiệm về tâm lý tình dục.
 
Điều trị bằng thuốc:
 
Nếu có dùng những thuốc đã nêu trên thì cố gắng thay một thuốc khác.
 
Dùng hormon thay thế (nếu suy sinh dục), thuốc uống (yohimbine, thuốc chống trầm cảm), thuốc dùng tại chỗ, thuốc tiêm trực tiếp, dụng cụ hỗ trợ...
 
Tóm lại: Biến chứng bất lực ở các nam bệnh nhân ĐTĐ là một vấn đề cần quan tâm thật sự. Người bệnh cần mạnh dạn nêu lên với bác sĩ và bác sĩ nên đặt vài câu hỏi xét nghiệm để xác định biến chứng này nhằm tư vấn giải quyết ở giai đoạn sớm của bệnh.
 
BS. Bùi Minh Trang

Nội dung chỉ mang tính tham khảo, chúng tôi không chịu trách nhiệm nếu bạn tự ý điều trị hoặc tự sử dụng thuốc khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.